BìNh LuậN Khoa HọC – LuậT Thi HàNh ÁN HìNh Sự Và CáC Quy ĐịNh MớI NhấT Về Thi HàNh ÁN HìNh Sự

Sách-Tài liệu: Bình Luận Khoa Học – Luật Thi Hành Án Hình Sự Và Các Quy Định Mới Nhất Về Thi Hành Án Hình Sự PDF EPUB ebook tốc độ nhanh.Tác giả: TS. Trần Minh Hưởng Nhà xuất bản: NXB Hồng Đức Nhà phát hành: Kinh Đô 2Từ khóa chính sách: Bình Luận Khoa Học – Luật Thi Hành Án Hình Sự Và Các Quy Định Mới Nhất Về Thi Hành Án Hình Sự, binh luan khoa hoc – luat thi hanh an hinh su va cac quy dinh moi nhat ve thi hanh an hinh su, TS. Trần Minh Hưởng

sach bình luạn khoa học - luạt thi hành án hình sụ và các quy dịnh mói nhát vè thi hành án hình sụ

BÌNH LUẬN KHOA HỌC – LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VÀ CÁC QUY ĐỊNH MỚI NHẤT VỀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

Bình Luận Khoa Học – Luật Thi Hành Án Hình Sự Và Các Quy Định Mới Nhất Về Thi Hành Án Hình Sự Thông tin tác giả TS.

Trần Minh Hưởng Vào trang riêng của tác giả Xem tất cả các sách của tác giả Có thể nói, thi hành án hình sự là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án trong thực tiễn.

Tòa án nhân danh nhà nước tuyên án với bị cáo tại phiên tòa, áp dụng mức và loại hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm do họ gây ra, bản án, quyết định của Tòa án được thi hành chính là lúc công lý được thực hiện trong cuộc sống.

Thi hành án hình sự là giai đoạn thể hiện rõ nét chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, nhiệm vụ của giai đoạn này nhằm mục đích cảm hóa tư tưởng, giáo dục nhân cách, văn hóa, kỹ năng lao động nhằm mục đích làm cho người thụ án trở thành một công dân tốt cho xã hội, mặt khác góp phần răn đe, ngăn ngừa chung.

Với ý nghĩa là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, thi hành án có mối quan hệ hữu cơ với giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.

Trên cả bình diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy, nếu mục đích của thi hành án không đạt được thì toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trước đó cũng trở nên vô nghĩa.

Khi một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm thì trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước không được thực hiện, chuyên chính bị buông lỏng.

Chính vì vậy, việc bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định của Tòa án là một yêu cầu tất yếu khách quan trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Để tuyên truyền, phổ biến pháp luật, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của công dân, TS Trần Minh Hưởng cùng tập thể tác giả đã biên soạn cuốn sách “Bình luận khoa học luật thi hành án hình sự và các quy định mới nhất về thi hành án hình sự”.

Cuốn sách được trình bày dưới dạng chuyên khảo, với 5 phần chính: Phần 1: Luật thi hành án hình sự Phần 2: Các quy định về trách nhiệm hình sự, hình phạt và các biện pháp tư pháp trong Bộ luật hình sự Việt Nam Phần 3: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong Bộ luật hình sự Việt Nam Phần 4: Án tử hình và các phương thức tử hình trên thế giới Phần 5: Phụ lục – các văn bản pháp luật về thi hành án hình sự Hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu bổ ích cho các cán bộ làm công tác thi hành án hình sự, cán bộ tư pháp hình sự, cán bộ trực tiếp làm công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, giáo dục cải tạo người phạm tội, các nhà nghiên cứu, sinh viên đang theo học ngành luật và những người quan tâm tìm hiểu về pháp luật thi hành án hình sự, hình phạt và các biện pháp tư pháp trong Luật hình sự Việt Nam Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Thông tin chi tiết Tác giả: TS.

Trần Minh Hưởng Nhà xuất bản: NXB Hồng Đức Nhà phát hành: Kinh Đô 2 Mã Sản phẩm: 8935206505870 Khối lượng: 1012.00 gam Định dạng: Bìa mềm Kích thước: 19x 27 cm Ngày phát hành: 2011 Số trang: 608 Nhận xét từ khách hàng cuon sach ? Bởi vu hung 04/04/2011 14:23:19 Một cuốn sách có quá nhiều sai sót ! Bình luận khoa học các bộ luật là sản phẩm khoa học của các nhà khoa học, đó là sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ hệ thống các quy tắc xử sự mà bộ luật đó quy định, giúp người nghiên cứu, các nhà quản lý, tổ chức và thực thi pháp luật tiếp cận và vận dụng vào công tác chuyên môn.

Như vậy, có thể nói sản phẩm khoa học là sự nỗ lực miệt mài, thể hiện trách nhiệm cao đối với xã hội của các nhà khoa học, bởi các cuốn sách mà các nhà khoa học viết ra có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn xã hội, nhất là những người trực tiếp quản lý, tổ chức và thực thi pháp luật.

Tháng 7/2011 Luật Thi hành án hành sự có hiệu lực sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án hình sự ở nước ta : Hàng nghìn bản án hình sự sẽ được thực hiện một cách nghiêm minh, hàng nghìn cán bộ làm công tác thi hành án hình sự (THAHS) được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về THAHS.

Tuy nhiên, để Luật thi hành án hình sự thực sự phát huy hiệu quả cần phải có các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm tránh sự chồng chéo, tạo sự thống nhất từ Trung ương đến địa phương trong quá trình thực thi pháp luật.

Mặc dù đến tháng 7/2011 Luật THAHS mới có hiệu lực pháp luật nhưng Nhà xuất bản Thời Đại đã kịp thời xuất bản cuốn sách : “Bình luận khoa học Luật Thi hành án hình sự và các quy định mới nhất về thi hành án hình sự”.

Đây là tín hiệu đáng vui mừng, vì thực tế THAHS là lĩnh vực mới, chúng ta chưa có nhiều các nhà khoa học, nhà nghiên cứu lý luận đầu đàn về lĩnh vực này.

Các công trình nghiên cứu về THAHS còn rất khiêm tốn.

Song, đọc cuốn sách trên, chúng tôi giật mình bởi đây là cuốn sách đầu tiên bình luận Luật THAHS và có ảnh hưởng lớn đến xã hội lại có quá nhiều sai sót, xin được chia sẻ cùng bạn đọc : Một là, nội dung sách có nhiều sai sót nghiêm trọng – Tại trang 55 thuộc Phần II, Chương II của cuốn sách có đoạn viết: “Đối tượng mà trại giam giam giữ là là những người bị kết án phạt tù hoặc tử hình đang chờ thi hành án.

Ngoài ra theo quy định tại Quy chế về tạm giữ, tạm giam thì đối tượng giam giữ tại trại giam còn có thể gồm cả bị can, bị cáo.

Trong trại giam cũng có thể có một số buồng để giam giữ những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, hoặc phạm tội quả tang đã có lệnh tạm giữ”.

Điều 10 Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù ban hành năm 2007 quy định : “Trại giam là nơi chấp hành hình phạt của người bị kết án tù”.

Điều 1 Quy chế trại giam cũng quy định : “Trại giam là nơi chấp hành hình phạt của người bị kết án tù có thời hạn và tù chung thân”.

Như vậy, trại giam chỉ giam giữ người bị kết án tù có thời hạn và tù chung thân, chứ không giam giữ người bị kết án tử hình đang chờ thi hành án (trại tạm giam là nơi giam giữ người bị kết án tử hình đang chờ thi hành án – Điều 10 Quy chế tạm giữ, tạm giam) Theo quy định tại Điều 2, Điều 3 và Điều 4 Quy chế tạm giữ, tạm giam thì trại tạm giam, nhà tạm giữ giam giữ bị can, bị cáo, những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, hoặc phạm tội quả tang đã có lệnh tạm giữ.

Có thể khẳng định là trại giam không giam giữ bị can, bị cáo và những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, hoặc phạm tội quả tang đã có lệnh tạm giữ.

Cũng cần phải nói thêm rằng đây không phải lỗi tại biên tập hay đánh máy nhầm, lỗi chính tả mà là sự thiếu hiểu biết của tác giả vì nội dung này thuộc mục Trại giam.

– Trong trang này còn có đoạn viết : “Hiện nay, theo Quy chế quản lý tạm giữ, tạm giam thì trại giam thuộc Bộ Công an và trại giam ở Công an cấp tỉnh giam giữ những đối tượng thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân Trại giam quân sự giam, giữ những đối tượng thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong Quân đội nhân dân”.

Điều 10 Quy chế tạm giữ, tạm giam quy định: “Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, mỗi Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Công an cấp tỉnh), Quân khu, Quân đoàn và cấp tương đương trong Quân đội nhân dân được tổ chức một hoặc hai trại tạm giam”.

Như vậy, Công an cấp tỉnh chỉ được tổ chức trại tạm giam chứ không phải là trại giam.

Trước khi có Quyết định 197 thì hệ thống trại giam do 2 cấp quản lý : một do Cục V26 (cũ), hai do công an cấp tỉnh quản lý.

Sau khi có Quyết định 197 các trại giam đã bàn giao về Cục V26 quản lý, trừ trại giam Mỹ Phước (sau này cũng đã bàn giao cho V26 quản lý).

Trại giam quân sự chỉ giam giữ người bị kết án tù có thời hạn và tù chung thân, tức là giam giữ những người mà bản án của Tòa án quân sự đã có hiệu lực pháp luật, chứ không giam giữ đối tượng thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong Quân đội nhân dân.

Đối tượng này chỉ giam giữ ở trại tạm giam quân sự các cấp.

– Tại trang 61 thuộc Phần I, Chương III có đoạn viết : “Hình thức biểu hiện cụ thể của chế độ giam giữ đối với phạm nhân được quy định trong Luật Thi hành án hình sự thể hiện ở việc quy định các quyền và trách nhiệm của hệ thống trại giam, quy định các quyền và nghĩa vụ của phạm nhân, cũng như quy định về việc phân loại trại giam (loại I ; loại II ; loại III) …”.

Điều 11 Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù đã bãi bỏ Điều 12, Điều 13 của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 1993 : không quy định phân loại trại giam loại I, loại II, loại III.

Trên cơ sở đó Luật Thi hành án hình sự cũng không quy định phân loại trại giam thành loại I, II, III.

Vậy mà cuốn sách trên lại viết là Luật Thi hành án hình sự quy định như vậy, thật là một sai sót khó có thể chấp nhận.

– Tại trang 318 của cuốn sách có đoạn viết : “Theo quy định của pháp luật hiện hành Bộ Công an được giao chủ trì tổ chức thi hành hình phạt tử hình.

Khi nhận được lệnh thi hành một án tử hình, lãnh đạo công an tỉnh, thành phố phải thành lập Hội đồng thi hành án tử hình…” Điều 259 BLTTHS năm 2003 quy định : “Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình gồm đại diện Tòa án, Viện kiểm sát và Công an.

Hội đồng thi hành án phải kiểm tra căn cước của người bị kết án trước khi thi hành án”.

Khoản 2 Điều 55 Luật THAHS cũng quy định : “Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án làm Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình”.

Như vậy, Tòa án mới là cơ quan được giao chủ trì tổ chức thi hành hình phạt tử hình và lãnh đạo Tòa án quyết định thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình chứ không phải là Bộ Công an và lãnh đạo Công an tỉnh, thành phố.

– Trang 319, dòng thứ nhất viết: “Trước khi đưa phạm nhân ra pháp trường… và xác định phạm nhân ấy đúng là phạm nhân đã bị kết án tử hình và đúng là người sắp bị thi hành án trong kế hoạch đã định.

Sau đó phải khóa tay và đưa phạm nhân đến buồng làm việc của Giám thị để đại diện tòa án nhân dân tiến hành tống đạt cho phạm nhân biết về quyết định án tử hình… Tiếp đó phạm nhân được dẫn giải đến pháp trường.

Sau khi trói tay phạm nhân vào cột đã trồng sẵn, đại diện tòa án nhân dân công bố tóm tắt tội trạng của phạm nhân… Sau đó bác sỹ pháp y khám nghiệm, xác định là phạm nhân đã chết hẳn hay chưa”.

Ở đây tác giả đã có sự nhầm lẫn nghiêm trọng về khái niệm.

Phạm nhân là khái niệm để chỉ những người bị kết án tù có thời hạn và tù chung thân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam.

Đối tượng bị kết án tử hình cũng như các án hình sự khác không được gọi là phạm nhân.

Hai là, tác giả cẩu thả và thiếu kinh nghiệm thực tiễn Khi viết một cuốn sách, nhất là sách viết về luật thì từ ngữ cần phải chính xác.

Vậy mà cuốn sách này đã nhiều lần viết thiếu hoặc không đúng với quy định của pháp luật, sai sót này theo chúng tôi là ở lỗi cẩu thả và thiếu kinh nghiệm trong công tác THAHS: – Tại trang 10 viết về hình phạt bổ sung được quy định trong BLHS năm 1999 chỉ có 6 hình phạt, trong khi đó luật quy định là 7 hình phạt bổ sung (thiếu hình phạt trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính).

– Tại Mục 2, Phần I, Chương III có đoạn viết: “Tòa án nhân dân ra quyết định thi hành án phạt tù theo quy định của Luật THAHS…”.

Trang 70 Mục 8, Phần I, Chương III viết: “Cơ quan có thẩm quyền gồm trại giam; trại tạm giam thuộc Bộ Công an; trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng…”.

Trang 74, dòng thứ nhất viết: “Giám thị trại giam; Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng…”.

Như vậy, có thể thấy tác giả đã không nói đến Tòa án, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng.

Ngoài ra, hầu hết ở trang 75 khi viết về xử lý phạm nhân, tác giả cuốn sách đã “quên” đề cập đến Bộ Quốc phòng (lỗi này rất phổ biến thể hiện sự thiếu trách nhiệm của tác giả) – Trang 319, dòng thứ 5 từ trên xuống có viết: “Sau đó phải khóa tay và đưa phạm nhân đến buồng làm việc của Giám thị để đại diện tòa án nhân dân tiến hành tống đạt cho phạm nhân biết về quyết định án tử hình…”.

Cũng ở trang này, dòng thứ 21 từ trên xuống viết: “Từ vị trí chỉ huy, đội trưởng tiến đến chỗ bị án rút súng từ bao súng bắn vào thái dương bị án, đạn xuyên chếch từ thái dương ra sau gáy của bị án…”.

Điều đó cho thấy, tác giả cuốn sách chưa một lần tham gia hoặc chứng kiến thi hành án tử hình: Thứ nhất, trước khi ra pháp trường, tử tù được đưa đến một phòng nhỏ chỉ có bàn ghế, tại đây tiến hành làm các thủ tục theo quy định của pháp luật chứ chưa có tử tù nào được đưa lên phòng làm việc của Giám thị trại tạm giam (có thể do quan niệm tâm linh nên thực tế Giám thị các trại tạm giam không muốn đưa tử tù lên phòng làm việc của mình).

Thứ hai, tác giả viết: “đạn xuyên chếch từ thái dương ra sau gáy của bị án” là không đúng với thực tế.

Chúng tôi đã từng tham gia thi hành án tử hình tư cách là cán bộ khám nghiệm tử thi cho thấy: Khi người đội trưởng bắn phát súng “nhân đạo” vào thái dương tử tù, miệng nòng súng thường dí sát vào thái dương nên không nghe thấy tiếng nổ, khi khám nghiệm tử thi đạn xuyên từ thái dương ra vị trí khu vực trên hoặc dưới tai đối diện (thường là tai phải) chứ không phải là xuyên ra sau gáy của bị án.

Để đạn xuyên ra sau gáy bị án thì báng súng phải chếch lên cao và hướng về phía trước mặt bị án, miệng nòng súng không thể ốp kín vào thái dương (điều này sẽ gây tiếng nổ khi bắn).

Đây là tư thế bắn khó, không thuận lợi cho người bắn nên thực tế không ai bắn như vậy, và sau gáy của tử thi không có lỗ đạn ra.

Ba là, tên sách ghi bình luận nhưng chủ yếu là trích dẫn điều luật Theo Từ điển Tiếng việt căn bản, NXB Thanh Niên, do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên thì: Bình luận là bàn và nhận xét, đánh giá vấn đề gì đó.

Như vậy, bình luận khoa học về Bộ luật tức là bàn và nhận xét, đánh giá các Điều được quy định trong Bộ luật đó trên cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm giúp cho người đọc hiểu rõ hơn và vận dụng vào công tác chuyên môn.

Với tiêu đề là: “Bình luận khoa học Luật THAHS và các quy định mới nhất về THAHS” nhưng trong cuốn sách chủ yếu là trích dẫn y nguyên các Điều luật mà không thấy bình luận, không có nhận xét, đánh giá nào.

Ví dụ như tại Mục 8, 9 thuộc Phần I, Chương I (trang 31,32) khi viết về thi hành hình phạt trục xuất, tước một số quyền công dân; thi hành hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định là chép lại Khoản 10, Khoản 11, Điều 3 Luật THAHS; Điều 36, Điều 39 BLHS… Việc một cuốn sách được xuất bản còn có những khiếm khuyết, sai sót ở điểm này điểm khác cũng là chuyện bình thường, có thể hiểu và thông cảm với tác giả.

Nhưng THAHS là một lĩnh vực mang tính đặc thù, đòi hỏi các tác giả sách phải có hiểu biết sâu sắc về lý luận và thực tiễn, có kinh nghiệm trong công tác THAHS.

Từ lý luận và thực tiễn mới có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá xác đáng nhất, góp phần nâng cao hệ thống lý luận về công tác THAHS.

Mục đích của bài viết này chỉ mong muốn đóng góp một số ý kiến về cuốn sách để bạn đọc nhận ra khiếm khuyết và tránh hiểu sai về công tác THAHS và tinh thần của các nhà làm Luật THAHS mà cuốn sách đã “bình luận” như đã phân tích ở trên.

Bình An Xem thêm Trả lời của bạn về đánh giá này , đã có 0 phản hồi.

Họ tên Email Mã xác nhận Vui lòng nhập các chữ số ở hình bên cạnh.

Gửi trả lời của bạn Hủy bỏ cuon sach qua do Bởi long vu 04/03/2011 15:20:12 Một cuốn sách có quá nhiều sai sót ! Bình luận khoa học các bộ luật là sản phẩm khoa học của các nhà khoa học, đó là sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ hệ thống các quy tắc xử sự mà bộ luật đó quy định, giúp người nghiên cứu, các nhà quản lý, tổ chức và thực thi pháp luật tiếp cận và vận dụng vào công tác chuyên môn.

Như vậy, có thể nói sản phẩm khoa học là sự nỗ lực miệt mài, thể hiện trách nhiệm cao đối với xã hội của các nhà khoa học, bởi các cuốn sách mà các nhà khoa học viết ra có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn xã hội, nhất là những người trực tiếp quản lý, tổ chức và thực thi pháp luật.

Tháng 7/2011 Luật Thi hành án hành sự có hiệu lực sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án hình sự ở nước ta : Hàng nghìn bản án hình sự sẽ được thực hiện một cách nghiêm minh, hàng nghìn cán bộ làm công tác thi hành án hình sự (THAHS) được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về THAHS.

Tuy nhiên, để Luật thi hành án hình sự thực sự phát huy hiệu quả cần phải có các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm tránh sự chồng chéo, tạo sự thống nhất từ Trung ương đến địa phương trong quá trình thực thi pháp luật.

Mặc dù đến tháng 7/2011 Luật THAHS mới có hiệu lực pháp luật nhưng Nhà xuất bản Thời Đại đã kịp thời xuất bản cuốn sách : “Bình luận khoa học Luật Thi hành án hình sự và các quy định mới nhất về thi hành án hình sự”.

Đây là tín hiệu đáng vui mừng, vì thực tế THAHS là lĩnh vực mới, chúng ta chưa có nhiều các nhà khoa học, nhà nghiên cứu lý luận đầu đàn về lĩnh vực này.

Các công trình nghiên cứu về THAHS còn rất khiêm tốn.

Song, đọc cuốn sách trên, chúng tôi giật mình bởi đây là cuốn sách đầu tiên bình luận Luật THAHS và có ảnh hưởng lớn đến xã hội lại có quá nhiều sai sót, xin được chia sẻ cùng bạn đọc : Một là, nội dung sách có nhiều sai sót nghiêm trọng – Tại trang 55 thuộc Phần II, Chương II của cuốn sách có đoạn viết: “Đối tượng mà trại giam giam giữ là là những người bị kết án phạt tù hoặc tử hình đang chờ thi hành án.

Ngoài ra theo quy định tại Quy chế về tạm giữ, tạm giam thì đối tượng giam giữ tại trại giam còn có thể gồm cả bị can, bị cáo.

Trong trại giam cũng có thể có một số buồng để giam giữ những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, hoặc phạm tội quả tang đã có lệnh tạm giữ”.

Điều 10 Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù ban hành năm 2007 quy định : “Trại giam là nơi chấp hành hình phạt của người bị kết án tù”.

Điều 1 Quy chế trại giam cũng quy định : “Trại giam là nơi chấp hành hình phạt của người bị kết án tù có thời hạn và tù chung thân”.

Như vậy, trại giam chỉ giam giữ người bị kết án tù có thời hạn và tù chung thân, chứ không giam giữ người bị kết án tử hình đang chờ thi hành án (trại tạm giam là nơi giam giữ người bị kết án tử hình đang chờ thi hành án – Điều 10 Quy chế tạm giữ, tạm giam) Theo quy định tại Điều 2, Điều 3 và Điều 4 Quy chế tạm giữ, tạm giam thì trại tạm giam, nhà tạm giữ giam giữ bị can, bị cáo, những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, hoặc phạm tội quả tang đã có lệnh tạm giữ.

Có thể khẳng định là trại giam không giam giữ bị can, bị cáo và những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, hoặc phạm tội quả tang đã có lệnh tạm giữ.

Cũng cần phải nói thêm rằng đây không phải lỗi tại biên tập hay đánh máy nhầm, lỗi chính tả mà là sự thiếu hiểu biết của tác giả vì nội dung này thuộc mục Trại giam.

– Trong trang này còn có đoạn viết : “Hiện nay, theo Quy chế quản lý tạm giữ, tạm giam thì trại giam thuộc Bộ Công an và trại giam ở Công an cấp tỉnh giam giữ những đối tượng thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân Trại giam quân sự giam, giữ những đối tượng thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong Quân đội nhân dân”.

Điều 10 Quy chế tạm giữ, tạm giam quy định: “Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, mỗi Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Công an cấp tỉnh), Quân khu, Quân đoàn và cấp tương đương trong Quân đội nhân dân được tổ chức một hoặc hai trại tạm giam”.

Như vậy, Công an cấp tỉnh chỉ được tổ chức trại tạm giam chứ không phải là trại giam.

Trước khi có Quyết định 197 thì hệ thống trại giam do 2 cấp quản lý : một do Cục V26 (cũ), hai do công an cấp tỉnh quản lý.

Sau khi có Quyết định 197 các trại giam đã bàn giao về Cục V26 quản lý, trừ trại giam Mỹ Phước (sau này cũng đã bàn giao cho V26 quản lý).

Trại giam quân sự chỉ giam giữ người bị kết án tù có thời hạn và tù chung thân, tức là giam giữ những người mà bản án của Tòa án quân sự đã có hiệu lực pháp luật, chứ không giam giữ đối tượng thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong Quân đội nhân dân.

Đối tượng này chỉ giam giữ ở trại tạm giam quân sự các cấp.

– Tại trang 61 thuộc Phần I, Chương III có đoạn viết : “Hình thức biểu hiện cụ thể của chế độ giam giữ đối với phạm nhân được quy định trong Luật Thi hành án hình sự thể hiện ở việc quy định các quyền và trách nhiệm của hệ thống trại giam, quy định các quyền và nghĩa vụ của phạm nhân, cũng như quy định về việc phân loại trại giam (loại I ; loại II ; loại III) …”.

Điều 11 Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù đã bãi bỏ Điều 12, Điều 13 của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 1993 : không quy định phân loại trại giam loại I, loại II, loại III.

Trên cơ sở đó Luật Thi hành án hình sự cũng không quy định phân loại trại giam thành loại I, II, III.

Vậy mà cuốn sách trên lại viết là Luật Thi hành án hình sự quy định như vậy, thật là một sai sót khó có thể chấp nhận.

– Tại trang 318 của cuốn sách có đoạn viết : “Theo quy định của pháp luật hiện hành Bộ Công an được giao chủ trì tổ chức thi hành hình phạt tử hình.

Khi nhận được lệnh thi hành một án tử hình, lãnh đạo công an tỉnh, thành phố phải thành lập Hội đồng thi hành án tử hình…” Điều 259 BLTTHS năm 2003 quy định : “Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình gồm đại diện Tòa án, Viện kiểm sát và Công an.

Hội đồng thi hành án phải kiểm tra căn cước của người bị kết án trước khi thi hành án”.

Khoản 2 Điều 55 Luật THAHS cũng quy định : “Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án làm Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình”.

Như vậy, Tòa án mới là cơ quan được giao chủ trì tổ chức thi hành hình phạt tử hình và lãnh đạo Tòa án quyết định thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình chứ không phải là Bộ Công an và lãnh đạo Công an tỉnh, thành phố.

– Trang 319, dòng thứ nhất viết: “Trước khi đưa phạm nhân ra pháp trường… và xác định phạm nhân ấy đúng là phạm nhân đã bị kết án tử hình và đúng là người sắp bị thi hành án trong kế hoạch đã định.

Sau đó phải khóa tay và đưa phạm nhân đến buồng làm việc của Giám thị để đại diện tòa án nhân dân tiến hành tống đạt cho phạm nhân biết về quyết định án tử hình… Tiếp đó phạm nhân được dẫn giải đến pháp trường.

Sau khi trói tay phạm nhân vào cột đã trồng sẵn, đại diện tòa án nhân dân công bố tóm tắt tội trạng của phạm nhân… Sau đó bác sỹ pháp y khám nghiệm, xác định là phạm nhân đã chết hẳn hay chưa”.

Ở đây tác giả đã có sự nhầm lẫn nghiêm trọng về khái niệm.

Phạm nhân là khái niệm để chỉ những người bị kết án tù có thời hạn và tù chung thân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam.

Đối tượng bị kết án tử hình cũng như các án hình sự khác không được gọi là phạm nhân.

Hai là, tác giả cẩu thả và thiếu kinh nghiệm thực tiễn Khi viết một cuốn sách, nhất là sách viết về luật thì từ ngữ cần phải chính xác.

Vậy mà cuốn sách này đã nhiều lần viết thiếu hoặc không đúng với quy định của pháp luật, sai sót này theo chúng tôi là ở lỗi cẩu thả và thiếu kinh nghiệm trong công tác THAHS: – Tại trang 10 viết về hình phạt bổ sung được quy định trong BLHS năm 1999 chỉ có 6 hình phạt, trong khi đó luật quy định là 7 hình phạt bổ sung (thiếu hình phạt trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính).

– Tại Mục 2, Phần I, Chương III có đoạn viết: “Tòa án nhân dân ra quyết định thi hành án phạt tù theo quy định của Luật THAHS…”.

Trang 70 Mục 8, Phần I, Chương III viết: “Cơ quan có thẩm quyền gồm trại giam; trại tạm giam thuộc Bộ Công an; trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng…”.

Trang 74, dòng thứ nhất viết: “Giám thị trại giam; Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng…”.

Như vậy, có thể thấy tác giả đã không nói đến Tòa án, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng.

Ngoài ra, hầu hết ở trang 75 khi viết về xử lý phạm nhân, tác giả cuốn sách đã “quên” đề cập đến Bộ Quốc phòng (lỗi này rất phổ biến thể hiện sự thiếu trách nhiệm của tác giả) – Trang 319, dòng thứ 5 từ trên xuống có viết: “Sau đó phải khóa tay và đưa phạm nhân đến buồng làm việc của Giám thị để đại diện tòa án nhân dân tiến hành tống đạt cho phạm nhân biết về quyết định án tử hình…”.

Cũng ở trang này, dòng thứ 21 từ trên xuống viết: “Từ vị trí chỉ huy, đội trưởng tiến đến chỗ bị án rút súng từ bao súng bắn vào thái dương bị án, đạn xuyên chếch từ thái dương ra sau gáy của bị án…”.

Điều đó cho thấy, tác giả cuốn sách chưa một lần tham gia hoặc chứng kiến thi hành án tử hình: Thứ nhất, trước khi ra pháp trường, tử tù được đưa đến một phòng nhỏ chỉ có bàn ghế, tại đây tiến hành làm các thủ tục theo quy định của pháp luật chứ chưa có tử tù nào được đưa lên phòng làm việc của Giám thị trại tạm giam (có thể do quan niệm tâm linh nên thực tế Giám thị các trại tạm giam không muốn đưa tử tù lên phòng làm việc của mình).

Thứ hai, tác giả viết: “đạn xuyên chếch từ thái dương ra sau gáy của bị án” là không đúng với thực tế.

Chúng tôi đã từng tham gia thi hành án tử hình tư cách là cán bộ khám nghiệm tử thi cho thấy: Khi người đội trưởng bắn phát súng “nhân đạo” vào thái dương tử tù, miệng nòng súng thường dí sát vào thái dương nên không nghe thấy tiếng nổ, khi khám nghiệm tử thi đạn xuyên từ thái dương ra vị trí khu vực trên hoặc dưới tai đối diện (thường là tai phải) chứ không phải là xuyên ra sau gáy của bị án.

Để đạn xuyên ra sau gáy bị án thì báng súng phải chếch lên cao và hướng về phía trước mặt bị án, miệng nòng súng không thể ốp kín vào thái dương (điều này sẽ gây tiếng nổ khi bắn).

Đây là tư thế bắn khó, không thuận lợi cho người bắn nên thực tế không ai bắn như vậy, và sau gáy của tử thi không có lỗ đạn ra.

Ba là, tên sách ghi bình luận nhưng chủ yếu là trích dẫn điều luật Theo Từ điển Tiếng việt căn bản, NXB Thanh Niên, do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên thì: Bình luận là bàn và nhận xét, đánh giá vấn đề gì đó.

Như vậy, bình luận khoa học về Bộ luật tức là bàn và nhận xét, đánh giá các Điều được quy định trong Bộ luật đó trên cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm giúp cho người đọc hiểu rõ hơn và vận dụng vào công tác chuyên môn.

Với tiêu đề là: “Bình luận khoa học Luật THAHS và các quy định mới nhất về THAHS” nhưng trong cuốn sách chủ yếu là trích dẫn y nguyên các Điều luật mà không thấy bình luận, không có nhận xét, đánh giá nào.

Ví dụ như tại Mục 8, 9 thuộc Phần I, Chương I (trang 31,32) khi viết về thi hành hình phạt trục xuất, tước một số quyền công dân; thi hành hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định là chép lại Khoản 10, Khoản 11, Điều 3 Luật THAHS; Điều 36, Điều 39 BLHS… Việc một cuốn sách được xuất bản còn có những khiếm khuyết, sai sót ở điểm này điểm khác cũng là chuyện bình thường, có thể hiểu và thông cảm với tác giả.

Nhưng THAHS là một lĩnh vực mang tính đặc thù, đòi hỏi các tác giả sách phải có hiểu biết sâu sắc về lý luận và thực tiễn, có kinh nghiệm trong công tác THAHS.

Từ lý luận và thực tiễn mới có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá xác đáng nhất, góp phần nâng cao hệ thống lý luận về công tác THAHS.

Mục đích của bài viết này chỉ mong muốn đóng góp một số ý kiến về cuốn sách để bạn đọc nhận ra khiếm khuyết và tránh hiểu sai về công tác THAHS và tinh thần của các nhà làm Luật THAHS mà cuốn sách đã “bình luận” như đã phân tích ở trên.

Bình An Xem thêm Trả lời của bạn về đánh giá này , đã có 0 phản hồi.

Họ tên Email Mã xác nhận Vui lòng nhập các chữ số ở hình bên cạnh.

Gửi trả lời của bạn Hủy bỏ Đánh giá trung bình (2 người đã đánh giá) 1.0 5 ★ 0 4 ★ 0 3 ★ 0 2 ★ 0 1 ★ 2 Đăng nhập để gửi nhận xét của Bạn Đăng nhập Bạn chưa có tài khoản? Hãy Đăng ký Bình luận từ facebook ()

sach hanh trang cho be vao lop 1 - be voi toan hoc

HÀNH TRANG CHO BÉ VÀO LỚP 1 – BÉ VỚI TOÁN HỌC

Hanh Trang Cho Be Vao Lop 1 – Be Voi Toan Hoc Thong tin tac gia Van Huong Vao trang rieng cua tac gia Xem tat ca cac sach cua tac gia Bo Sach Hanh Trang Cho Be Vao Lop 1 gom 8 cuon: Be Lam Quen Voi Chu So Be Nhan Biet Va Lam Quen Voi Chu Cai Be Tap Doc Va To Chu Cai Be Tap To Chu Hoa Be Tap To Chu So Be Tap To Chu Thuong Be Tap To Va Ghep Van Be Voi Toan HocMoi ban don doc. Thong tin chi tiet Tac gia: Van Huong Nha xuat ban: Nxb My thuat Nha phat hanh: Tan Viet Ma San pham: 8935210226860 Khoi luong: 66.00 gam Ngon ngu: Tieng Viet Dinh dang: Bia mem Kich thuoc: 17 x 24 cm Ngay phat hanh: 06/2018 So trang: 24